dịch vụ thành lập công ty

QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 1320 XÁC ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG TRỌNG YẾU KIỂM TOÁN  TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
(Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước)
 
QUY ĐỊNH CHUNG
Cơ sở xây dựng
01. Chuẩn mực này được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở CMKTNN 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, CMKTNN 200 - Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính và ISSAI 1320 của INTOSAI - Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán.
Mục đích và phạm vi áp dụng
02. Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước trong việc xây dựng Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán và trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước trong việc áp dụng Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán và áp dụng khái niệm “trọng yếu” đối với mọi cuộc kiểm toán tài chính, nhằm giúp kiểm toán viên nhà nước xác định và áp dụng trọng yếu kiểm toán một cách phù hợp khi lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán tài chính.
03. Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này trong quá trình thực hiện kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán, các bên có liên quan và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này để phối hợp công việc với kiểm toán viên nhà nước và giải quyết các mối quan hệ trong quá trình kiểm toán.
Giải thích thuật ngữ
04. Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:
(i) Trọng yếu kiểm toán: Là khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) và bản chất của các sai sót, những thông tin thiếu hoặc thông tin không chính xác có thể làm sai lệch đáng kể đến báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính được kiểm toán, làm ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin. 
Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin thiếu, thông tin không chính xác hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét ở cả hai phương diện định lượng và định tính.
Về mặt định lượng, các sai sót, thông tin thiếu hoặc thông tin không chính xác được coi là trọng yếu khi đạt đến một giá trị nhất định có thể gây ảnh hưởng đến quyết định của đối tượng sử dụng thông tin tài chính.
Về mặt định tính, các sai sót, thông tin thiếu hoặc thông tin không chính xác được coi là trọng yếu khi bản chất của nó có thể gây ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính cho dù quy mô sai sót có thể nhỏ.
(ii) Mức trọng yếu: Là mức giá trị do kiểm toán viên nhà nước xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có.
(iii) Mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính được kiểm toán (sau đây gọi là mức trọng yếu đối với tổng thể  báo cáo tài chính): Là giá trị tối đa của toàn bộ sai sót trên báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính được kiểm toán mà kiểm toán viên nhà nước cho rằng ở mức đó báo cáo tài chính có thể bị sai nhưng chưa ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin. Mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính thường được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên giá trị tiêu chí được lựa chọn.
(iv) Mức trọng yếu đối với nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh: Là giá trị tối đa của toàn bộ sai sót đối với từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính được kiểm toán mà kiểm toán viên nhà nước cho rằng ở mức đó thông tin của nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh có thể bị sai nhưng chưa ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin.
(v) Mức trọng yếu thực hiện: Là mức giá trị do kiểm toán viên nhà nước xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính, nhằm giảm khả năng sai sót tới mức thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh và các sai sót không được phát hiện không vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính.
Trong trường hợp liên quan đến mức trọng yếu đối với nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh, mức trọng yếu thực hiện cũng được xác định để làm giảm khả năng xảy ra các sai sót không được điều chỉnh hoặc không được phát hiện trong nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh đó tới mức thấp có thể chấp nhận được.
(vi) Ngưỡng sai sót không đáng kể: Là mức giá trị do kiểm toán viên nhà nước xác định mà sai sót dưới mức đó được coi là sai sót không đáng kể và tổng hợp các sai sót đó không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính được kiểm toán.
Các thuật ngữ khác sử dụng trong Chuẩn mực này được định nghĩa như trong các chuẩn mực kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban hành. 
NỘI DUNG CHUẨN MỰC
Mục đích xác định và vận dụng trọng yếu kiểm toán
05. Trọng yếu kiểm toán là cơ sở giúp kiểm toán viên nhà nước:
(i) Xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục đánh giá rủi ro; 
(ii) Nhận biết và đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu; 
(iii) Xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán trong quá trình kiểm toán;
(iv) Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán (nếu có); rút ra kết luận về ảnh hưởng của các sai sót và hình thành ý kiến kiểm toán.
Một số lưu ý khi xác định và vận dụng trọng yếu kiểm toán
06. Để xác định trọng yếu kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước căn cứ vào nguyên tắc "trọng yếu" trong lập và trình bày báo cáo tài chính được quy định và hướng dẫn tại các chuẩn mực và chế độ kế toán. 
Trường hợp chuẩn mực và chế độ kế toán không quy định và hướng dẫn nguyên tắc “trọng yếu” trong lập và trình bày báo cáo tài chính, các đặc tính dưới đây là căn cứ để xác định trọng yếu kiểm toán:
(i) Sai sót được coi là trọng yếu nếu những sai sót này, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, có thể gây ảnh hưởng tới quyết định của đối tượng sử dụng thông tin tài chính;
(ii) Những xét đoán về tính trọng yếu của sai sót cần được xem xét trong từng hoàn cảnh cụ thể, ở cả góc độ quy mô hay bản chất của sai sót, hoặc kết hợp cả hai. 
(iii) Những xét đoán về các vấn đề trọng yếu phải dựa trên việc xem xét các nhu cầu chung về thông tin tài chính của các đối tượng sử dụng thông tin chủ yếu.
07. Trọng yếu kiểm toán cần được xem xét cả về mặt định lượng và định tính. Khi xét đoán tính trọng yếu của sai sót đối với báo cáo tài chính, kiểm toán viên không chỉ dựa vào quy mô của sai sót (khía cạnh định lượng) mà còn phải xem xét bản chất của sai sót trong từng hoàn cảnh cụ thể (khía cạnh định tính). Việc xác định mức trọng yếu kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán có thể giúp kiểm toán viên nhà nước có cơ sở xét đoán tính trọng yếu của sai sót về mặt quy mô; tuy nhiên, trong một số hoàn cảnh cụ thể, sai sót có thể được coi là trọng yếu mặc dù giá trị của sai sót đó thấp hơn mức trọng yếu.
08. Trọng yếu kiểm toán là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối. Một sai sót với quy mô nhất định có thể là sai sót trọng yếu trong hoàn cảnh này nhưng lại không trọng yếu trong hoàn cảnh khác. Do đó, không thể xây dựng mức trọng yếu chung để áp dụng cho mọi đơn vị được kiểm toán.
09. Xác định trọng yếu kiểm toán là công việc xét đoán mang tính chuyên môn, phụ thuộc nhiều vào tính chủ quan cũng như nhận thức của kiểm toán viên nhà nước về nhu cầu đối với thông tin tài chính của các đối tượng sử dụng thông tin. 
10. Kiểm toán viên nhà nước phải vận dụng khái niệm trọng yếu kiểm toán trong suốt quá trình kiểm toán, cả khi lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, khi đánh giá ảnh hưởng của những sai sót đã phát hiện trong quá trình kiểm toán và khi hình thành ý kiến kiểm toán.
Xây dựng Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán
11. Kiểm toán nhà nước phải xây dựng và ban hành Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán nhằm quy định, hướng dẫn kiểm toán viên nhà nước trong việc xác định, vận dụng trọng yếu kiểm toán một cách thống nhất.
12. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán quy định và hướng dẫn các nội dung chủ yếu sau:
(i) Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính; 
(ii) Xác định mức trọng yếu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý;
(iii) Xác định mức trọng yếu thực hiện;
(iv) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể.
13. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán cần thể hiện được nội dung xác định trọng yếu kiểm toán đối với từng lĩnh vực đơn vị được kiểm toán (như: kiểm toán doanh nghiệp, kiểm toán ngân sách địa phương, kiểm toán ngân sách trung ương, kiểm toán các tổ chức tài chính, ngân hàng, kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình,...). Các nội dung này bao gồm đồng thời cả khung hướng dẫn về định lượng và các nguyên tắc hướng dẫn về định tính đối với việc xác định trọng yếu kiểm toán. Khung hướng dẫn xác định mức trọng yếu kiểm toán trong Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán được xây dựng dựa trên kinh nghiệm và kết quả thống kê các cuộc kiểm toán của Kiểm toán nhà nước theo từng lĩnh vực đơn vị được kiểm toán.
Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính
14. Thông thường, mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính được xác định dựa trên giá trị tiêu chí được lựa chọn và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với giá trị tiêu chí đó. Các hướng dẫn xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính bao gồm:
(i) Hướng dẫn lựa chọn tiêu chí phù hợp đối với từng lĩnh vực đơn vị được kiểm toán;
(ii) Hướng dẫn về khung tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với từng tiêu chí.
15. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc xác định tiêu chí phù hợp bao gồm:
(i) Các yếu tố của báo cáo tài chính;
(ii) Các khoản mục trên báo cáo tài chính mà đối tượng sử dụng thông tin thường quan tâm;
(iii) Đặc điểm hoạt động của đơn vị được kiểm toán, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực và môi trường hoạt động của đơn vị;
(iv) Sự thay đổi tiêu chí lựa chọn khi có yếu tố biến động bất thường.
16. Khung tỷ lệ sử dụng để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính là một khoảng tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với mỗi tiêu chí để kiểm toán viên nhà nước lựa chọn tùy theo từng trường hợp của đơn vị được kiểm toán. 
17. Tỷ lệ phần trăm (%) và tiêu chí được lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính thường có mối liên hệ với nhau, như tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng cho lợi nhuận trước thuế thường cao hơn tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng cho doanh thu. Chẳng hạn, mức 5% trên lợi nhuận trước thuế có thể được áp dụng đối với đơn vị hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, trong khi mức 1% trên tổng thu hoặc tổng chi là phù hợp với đơn vị phi lợi nhuận. 
Tuy nhiên, việc lựa chọn tỷ lệ phần trăm (%) cao hơn hoặc thấp hơn có thể được coi là phù hợp tùy theo từng trường hợp cụ thể. Với cùng một tiêu chí lựa chọn nhưng tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính có thể khác nhau tùy thuộc đặc điểm của đơn vị được kiểm toán hoặc quy mô của tiêu chí lựa chọn. Ví dụ như tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng cho mức doanh thu lớn sẽ thấp hơn so với tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng cho mức doanh thu nhỏ. Do đó, trong trường hợp xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính, Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước có thể quy định những khung tỷ lệ phần trăm (%) khác nhau tùy thuộc quy mô của tiêu chí lựa chọn trên cơ sở quy mô tiêu chí lựa chọn càng lớn thì tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với tiêu chí lựa chọn càng nhỏ.
Xác định mức trọng yếu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý
18. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước cũng cần hướng dẫn về việc xác định mức trọng yếu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý trong trường hợp các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh đó có sai sót thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính nhưng có thể ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính.
Xác định mức trọng yếu thực hiện
19. Mức trọng yếu thực hiện được xác định ở mức thấp hơn so với mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính. Thông thường, mức trọng yếu thực hiện được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước cần có quy định về khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện để định hướng cho các kiểm toán viên nhà nước vận dụng trong quá trình kiểm toán.
Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể
20. Thông thường, ngưỡng sai sót không đáng kể được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) dựa trên mức trọng yếu đã xác định. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước cần có quy định về tỷ lệ xác định ngưỡng sai sót không đáng kể để định hướng cho các kiểm toán viên nhà nước vận dụng trong quá trình kiểm toán.
Xác định và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong quá trình kiểm toán   
Xác định và vận dụng trọng yếu kiểm toán khi lập kế hoạch kiểm toán
Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính
21. Mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính phải được xác định khi lập kế hoạch kiểm toán của mọi cuộc kiểm toán tài chính.
22. Việc xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính đòi hỏi các xét đoán chuyên môn nghề nghiệp. Căn cứ Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, tỷ lệ phần trăm (%) áp dụng cho một tiêu chí được lựa chọn làm điểm khởi đầu trong việc xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính như sau:
(i) Lựa chọn tiêu chí xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính;
(ii) Xác định giá trị của tiêu chí lựa chọn tại mục (i) Đoạn này dựa trên các thông tin tài chính thích hợp;
(iii) Lựa chọn tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính tương ứng với tiêu chí lựa chọn tại mục (i) Đoạn này;
(iv) Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính dựa trên giá trị của tiêu chí đã chọn (xác định tại mục (ii) Đoạn này) và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng (xác định tại mục (iii) Đoạn này):
Mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính X Giá trị của tiêu chí lựa chọn
23. Tiêu chí xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với tiêu chí lựa chọn được xác định dựa trên cơ sở:
(i) Các tiêu chí và khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính được hướng dẫn trong Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước;
(ii) Phân tích đặc điểm của đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, các yếu tố tác động của chính sách kinh tế vĩ mô và các quy định của nhà nước ảnh hưởng đến hoạt động ngành nghề của đơn vị được kiểm toán, báo cáo tài chính, thông tin tài chính được kiểm toán, kết quả kiểm toán những năm trước và các thông tin khác có liên quan;
(iii) Phân tích nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin đối với báo cáo tài chính, thông tin tài chính được kiểm toán;
(iv) Xem xét tiêu chí, giá trị của tiêu chí và mức trọng yếu xác định từ cuộc kiểm toán trước đối với báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán hoặc các cuộc kiểm toán đối với các đơn vị tương tự. 
24. Giá trị của tiêu chí lựa chọn xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính cần được xác định dựa trên các dữ liệu tài chính phù hợp. Những dữ liệu này thường bao gồm số liệu về kết quả hoạt động và tình hình tài chính của kỳ được kiểm toán, được điều chỉnh khi có biến động lớn tùy theo từng trường hợp của đơn vị được kiểm toán hoặc có những thay đổi quan trọng có liên quan trong ngành nghề, lĩnh vực hay môi trường hoạt động của đơn vị. 
Chẳng hạn, giả sử mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính của một doanh nghiệp được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của lợi nhuận trước thuế. Khi có các biến động bất thường làm tăng hoặc giảm đáng kể lợi nhuận trước thuế, mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính có thể xác định bằng cách sử dụng mức lợi nhuận trước thuế đã loại trừ ảnh hưởng của các biến động bất thường, dựa vào kết quả kinh doanh của các kỳ trước.
25. Mức trọng yếu phải được xác định gắn liền với báo cáo tài chính được kiểm toán. Khi báo cáo tài chính được lập cho kỳ kế toán dài hơn hoặc ngắn hơn 12 tháng (ví dụ, đối với một số đơn vị mới thành lập hoặc thay đổi kỳ kế toán), mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính cần phải được xác định dựa trên báo cáo tài chính được lập cho kỳ kế toán đó.
Xác định mức trọng yếu đối với những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý
26. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi có những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chính có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính nhưng có thể ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính thì kế hoạch kiểm toán cần xác định mức trọng yếu áp dụng cho những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh đó.
27. Mức trọng yếu đối với những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý như đã quy định tại Đoạn 26 Chuẩn mực này phải thấp hơn so với mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính.
28. Khi xây dựng kế hoạch kiểm toán, các yếu tố có thể dẫn đến sự tồn tại của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý như đã quy định tại Đoạn 26 Chuẩn mực này cần được xem xét, bao gồm các yếu tố như:
(i) Pháp luật, các quy định hoặc khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng;
(ii) Các thuyết minh quan trọng liên quan đến ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán;
(iii) Những lĩnh vực hoạt động nhất định của đơn vị được thuyết minh riêng rẽ trên báo cáo tài chính.
Những yếu tố nói trên có thể dẫn đến sự quan tâm, lưu ý của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính đối với một số nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh nhất định trên báo cáo tài chính. Khi đó, kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá và xem xét xác định mức trọng yếu thấp hơn đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh nói trên.
29. Khi xác định mức trọng yếu đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý, kiểm toán viên nhà nước cần thu thập thêm thông tin về quan điểm và định hướng của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán trong việc lập và trình bày các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh nói trên trong báo cáo tài chính.
30. Lưu ý khi xác định mức trọng yếu đối với những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh
(i) Đối với những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu về bản chất hoặc hậu quả của sai sót tại nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh đó là nghiêm trọng thì mức trọng yếu được xác định ở mức thấp.
(ii) Đối với những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh có yêu cầu chính xác tuyệt đối về số liệu, mức trọng yếu đối với nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh đó có thể được xác định ở mức rất thấp (mức trọng yếu gần bằng 0). Khi đó, kiểm toán viên nhà nước có thể cần kiểm toán toàn bộ các giao dịch có liên quan nhằm phát hiện tất cả các sai sót trong nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh.
Xác định mức trọng yếu thực hiện
31. Khi lập kế hoạch kiểm toán, mức trọng yếu thực hiện cần được xác định nhằm mục đích đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu và xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong quá trình kiểm toán. 
32. Việc xác định mức trọng yếu thực hiện không chỉ đơn thuần là một phép tính toán học mà yêu cầu phải có những xét đoán chuyên môn. Căn cứ Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, mức trọng yếu thực hiện được xác định như sau:
(i) Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định mức trọng yếu thực hiện, như:
Hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị được kiểm toán, bao gồm cả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ;
Kết quả thực hiện các thủ tục đánh giá rủi ro;
Quy mô, bản chất của các sai sót đã phát hiện trong các cuộc kiểm toán lần trước và khả năng lặp lại sai sót đó trong kỳ được kiểm toán;
Xét đoán về mức độ sai sót dự kiến trong kỳ được kiểm toán.
(ii) Lựa chọn tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện dựa trên khung tỷ lệ hướng dẫn trong Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
(iii) Xác định mức trọng yếu thực hiện dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng (xác định tại mục (ii) Đoạn này):
Mức trọng yếu thực hiện = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu thực hiện x Mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính
33. Trường hợp đơn vị được kiểm toán có hệ thống kiểm soát nội bộ thiếu tin cậy, có nhiều sai sót với giá trị lớn từ các cuộc kiểm toán trước, dự kiến có nhiều khả năng sai sót trong cuộc kiểm toán lần này hoặc kết quả đánh giá rủi ro ở mức cao thì mức trọng yếu thực hiện được xác định ở mức thấp.
34. Đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý như đã quy định tại Đoạn 26 Chuẩn mực này, mức trọng yếu thực hiện cũng được xác định nhằm làm giảm khả năng xảy ra các sai sót không được điều chỉnh hoặc không được phát hiện trong nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh đó tới mức thấp có thể chấp nhận được. Mức trọng yếu thực hiện thường được xác định ở mức thấp trong khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện tại Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.
Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể
35. Căn cứ Khung tỷ lệ hướng dẫn xác định ngưỡng sai sót không đáng kể trong Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, ngưỡng sai sót không đáng kể được xác định dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính để làm cơ sở tổng hợp các sai sót cần điều chỉnh.
36. Đối với những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý như đã quy định tại Đoạn 26 Chuẩn mực này, ngưỡng sai sót không đáng kể cũng được xác định dựa trên mức trọng yếu đã xác định đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần lưu ý nói trên.
Xác định trọng yếu kiểm toán đối với mục tiêu kiểm toán tuân thủ trong cuộc kiểm toán tài chính
37. Mục tiêu của cuộc kiểm toán tài chính trong lĩnh vực công thường rộng hơn các lĩnh vực khác. Bên cạnh mục tiêu đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên các khía cạnh trọng yếu, có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính hay không, cuộc kiểm toán tài chính của Kiểm toán nhà nước còn có thể bao gồm các mục tiêu kiểm toán khác liên quan đến nhiệm vụ trình bày trên báo cáo kiểm toán các trường hợp không tuân thủ quy định, chính sách, pháp luật hoặc đánh giá, nhận xét về tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ. Trong trường hợp này, trọng yếu kiểm toán cũng cần được xác định đối với các mục tiêu bổ sung nói trên. Các quy định và hướng dẫn cụ thể việc xác định trọng yếu kiểm toán đối với các mục tiêu kiểm toán như vậy được trình bày tại các chuẩn mực kiểm toán tuân thủ.
Xác định các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu
38. Khi lập kế hoạch kiểm toán, các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu trên báo cáo tài chính cần được xác định làm cơ sở để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp cơ sở dẫn liệu, thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong quá trình thực hiện kiểm toán. 
39. Mức trọng yếu được vận dụng trong việc xác định các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu. Tuy nhiên, việc xác định các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu này không chỉ đơn thuần là việc xem xét về giá trị của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chính mà cần phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xem xét các yếu tố định tính trong hoàn cảnh cụ thể. Một nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh có giá trị vượt quá mức trọng yếu không nhất thiết phải là nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu và một nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh có giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu có thể là nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu khi xem xét các yếu tố định tính.
40. Khi xác định các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu, kiểm toán viên nhà nước thường xem xét các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Tuy nhiên, các thành phần chi tiết của chỉ tiêu trên báo cáo tài chính cũng có thể được xem xét để xác định liệu những thành phần chi tiết đó có phải là nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu hay không. Ví dụ: các thành phần chi tiết của chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo tài chính (như: nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm và dự phòng giảm giá hàng tồn kho) có thể được xem xét riêng lẻ khi xác định xem các thành phần chi tiết đó có phải là nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu hay không.
41. Khi đánh giá tính trọng yếu của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh, kiểm toán viên nhà nước cần xem xét cả quy mô, bản chất cũng như nội dung của từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trong hoàn cảnh cụ thể. Các yếu tố định lượng và định tính liên quan đến việc xác định các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu có thể bao gồm các yếu tố sau:
(i) Độ lớn và thành phần chi tiết của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh, số lượng của các giao dịch, mức độ phức tạp và tính đồng nhất của các giao dịch liên quan đến nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trên báo cáo tài chính;

0982.686.028